MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Cô giáo Phùng Thị Tính
Nguyên bí thư Chi bộ – Hiệu trưởng

Nhìn những tấm ảnh của giáo viên và học sinh từ năm “ơ kìa” trong tôi lần lượt tái hiện lại những kỉ niệm xưa. Lúc đó, chiến tranh đã qua đi nhưng còn lại những năm dài của thời bao cấp, trường chung 2 cấp, chung hiệu trưởng, họp Hội đồng sư phạm chung, họp công đoàn chung, thư kí Hội đồng sư phạm chung, cơ sở vật chất chung,… chỉ có sinh hoạt chuyên môn và đoàn, đội là riêng. Cấp ii học sáng, cấp i học chiều. Khai giảng chung, năm nào gần đến ngày khai giảng học sinh cũng tập đi “ắc ê” (đi mốt hai mốt) trước nửa tháng mà không thấy mệt. rồi đến ngày khai giảng, các trò vung tay nọ dậm chân kia cũng đẹp và chuyên nghiệp lắm. Cấp 1 lúc bấy giờ, phụ huynh nào cũng sinh nhiều con nên học sinh đông hơn cấp 2. Các em tự đến trường và tự đi về không cần ai đưa đón, cặp sách chỉ bằng một phần của học sinh bây giờ. Nhà nào cũng nghèo nuôi con mình đã vất vả rồi nên chưa có chuyện bắt cóc trẻ con. Hồ Tây có năm cạn nước, giờ ra chơi cổng trường vẫn mở bình thường. Học sinh của tôi đã xuống hồ mò trai biếu cô về nấu cháo cho em bé. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi ăn thịt trai ngon thế – vị ngọt kèm theo vị “cảm động” xen lẫn sợ hãi “ơn giời phù hộ chúng không xảy ra chuyện gì lúc mò trai” đến bây giờ vẫn không thể nào quên được.

Những năm bao cấp, giáo viên cấp i đa số là người địa phương đi bộ đi dạy học. Chỉ có cấp 2 là lác đác vài người có xe đạp vì mọi người ở xa hơn. Cuộc sống khó khăn lắm nhưng chúng tôi sống hoà đồng vui vẻ không bon chen. giám hiệu và giáo viên hầu như không có khoảng cách, gần gũi yêu mến, chia sẻ với nhau từng việc nhỏ. ai ốm đau tuy nghèo nhưng đều có cân đường hộp sữa đến động viên ngay, sinh nở thì thêm chục trứng, nải chuối. Cả hai cấp nhà nào có công việc cần đến là đoàn viên công đoàn kịp thời có mặt giúp không kể ngày đêm – đi tối đường vắng cũng không sợ cướp giật, vì có ai có trang sức mà đeo đâu. Mỗi khi có đợt phân phối hàng hoá thì vui lắm hơn cả ngày hội bây giờ. Liên tịch họp bình xét công khai không tính vào điểm chuyên môn, dạy giỏi hay dạy bình thường giống nhau hết, mà dựa vào hoàn cảnh của từng gia đình để phân phối: nào áo 3 lỗ, xích, líp, nan hoa xe đạp, dép nhựa, xà phòng 272 (Liên Xô), kem đánh răng, chè uống gói nhỏ, mảnh vải, dao cạo râu, đèn pin,… còn quạt con cóc và xe đạp thì chỉ là trong mơ. Hạ hồi phân giải, mình có khi chưa được kỳ này thì ai được cũng vui chung (các bạn chưa có gì hay bị thiệt thòi hơn). Người nào cũng hối hả buổi sáng ở nhà làm thêm đủ việc như: nuôi lợn, khâu áo len, giặt bao tải để lấy bột mì, rang lạc đóng gói, trồng sắn dây. Tối đến chấm bài soạn giáo án (ra khỏi cổng trường là thấy ôm chồng vở của học sinh về). ai cũng thầm ước giá hồi đó mình đi học thương nghiệp để được bán bách hoá, bán lương thực, thực phẩm thì sướng hơn làm giáo viên nhiều. Nhưng không, so với những nghề khác chúng tôi lại thấy mình may mắn hơn vì đi dạy nửa ngày nhưng hưởng lương cả ngày, có thời gian đi xếp hàng mua lương thực, thực phẩm tem phiếu không sợ bị hết hạn vì không có thời gian. Chúng tôi luôn hoàn thành rất tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên cũng có một số ít bỏ nghề chuyển sang làm việc khác để mưu sinh.

Khó khăn thì nhiều nhưng vui thì không kém. Mỗi lần có dịp liên hoan toàn trường thì duy nhất chỉ có món bún chả xiên, tự xiên tự nướng ai cũng khéo tay, hay làm. Liên hoan xong thì ba hôm sau nếp tóc, nếp khăn vẫn thơm mùi chả nướng. Nhớ nhất là món ốc luộc của chi đoàn cấp i, ốc ngâm vội vàng, chưa sạch đã luộc (vừa chấm vừa rửa húp nước chấm soàn soạt thấm đượm chua, cay, mặn, ngọt; thế mà chẳng ai bị làm sao cả. Đúng là ốc còn bẩn nhưng nó ăn sạch nên vẫn an toàn. Sau này có nhiều người đến hỏi cách pha nước chấm ốc ngon tuyệt vời của cô giáo Quý. Hồi đó hệ thống “phòng không” của cấp i vô cùng kiên cố, có lẽ thấy chúng tôi vất vả hơn nên chẳng ai muốn học thêm trường Đại học để khoe gia đình để bằng chị bằng em. Miền Nam được giải phóng nên chúng tôi có thêm nhiều chiếc xe đạp để đi dạy, chứ xe thống nhất ngoài Bắc lúc đó đắt lắm. rồi đến năm 1987 – 1988 xoá bỏ bao cấp hoàn toàn, hàng hoá thông thương, đời sống khá hơn nhiều vì đẻ ít nên có điều kiện chăm con hơn. Bọn trẻ ngoan, sống đơn giản, dễ nuôi hơn bây giờ nhiều. Chúng lớn theo thời gian, năm tháng. Cuộc sống của phụ huynh cũng khá hơn, ngày 20/11 quà tặng không còn là cây dừa phim, tượng thạch cao, sổ tay mà thay vào đó là bó hoa nhỏ, khăn bông bay, mảnh vải hoa, có khi là cả bộ ấm chén, phích rạng đông (chúng tôi vẫn nhớ và cùng giữ lại những kỉ niệm đó).

Bốn mươi năm sắp qua đi, chúng tôi thế hệ quản lí và giáo viên lần lượt về nghỉ chế độ. Một số anh chị em đã ra đi nhưng những câu chuyện thời xưa còn đọng mãi trong chúng tôi.

Bây giờ trường lớp rất khang trang, quản lí – giáo viên đều trẻ năng động, sáng tạo bắt nhịp cùng thời kì 4.0. Thông tin nhanh nhạy, chỉ cần bấm nút là gọi được cho nhau khi cần khi nhớ. Còn chúng tôi lúc nào cũng tự hào có “một thời để nhớ”. Mỗi lần gặp nhau kể mãi không hết chuyện thời xưa…

Xin chân thành cảm ơn nhà trường – Ban giám hiệu, Công đoàn đã cho chúng tôi cơ hội được trải lòng chia sẻ những kỉ niệm của năm tháng đã qua. Xin kính chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc, thành công. Chúc cho sự nghiệp giáo dục của trường Tiểu học Đông Thái ngày càng phát triển. Tháng 9 năm 2018

Bình luận / phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.